GIỚI THIỆU

Huyền thoại về Tiểu thư Mạc Mi Cô và kho báu ở Hà Tiên

Huyền thoại về Tiểu thư Mạc Mi Cô và kho báu ở Hà Tiên

 

(Thâm cung bí sử) - Miền đất Hà Tiên thơ mộng là mảnh đất gắn liền với lịch sử dòng họ Mạc, là bậc khai quốc công thần khai khẩn, mở cõi và bảo vệ vùng đất cuối biển Tây Nam Tổ quốc thiêng liêng. Hà Tiên lưu dấu trong trí nhớ người đời với 10 cảnh đẹp như mơ, có Tô Châu, chùa Phù Dung, Mũi Nai, Thạch Động…

 Tiểu thư Mạc Mi Cô là ai ? Đó là con gái của Mạc Thiên Tích và là cháu nội của ông Mạc Cửu ở Hà Tiên.
  
Hà Tiên thập vịnh là mười bài thơ làm để vịnh mười cảnh đẹp của Hà Tiên do Mạc Thiên Tích đề xướng từ năm Bính Thìn 1736: Kim Dự lan đào, Bình San điệp thuý, Tiêu Tự thần chung, Gianh Thành dạ cổ, Thạch Động thôn vân, Châu Nham lạc lộ, Đông Hồ ấn nguyệt, Nam Phố trừng ba, Lộc Trĩ thôn cư, Lư Khê ngư bạc.
 
 Cảnh đẹp Hà Tiên càng làm cho du khách ngẩn ngơ khi tìm về lịch sử vùng đất giàu lịch sử này. Câu chuyện về gia tộc họ Mạc luôn gắn với lịch sử Hà Tiên, tạo nên nhiều huyền thoại, truyền thuyết lưu truyền trong nhân gian mãi đến nay.
 
  Chuyện người khai khẩn đất Hà Tiên
 
  Chuyện dân gian kể lại rằng: Đầu thế kỷ 18, khi thế lực triều nhà Thanh đã vững mạnh, những cựu thần nhà Minh kháng cự yếu ớt dần và tan rã. (ảnh Biển Mũi Nai nhìn từ đồi Vọng Cảnh)
 
 Căn cứ địa kháng chiến “phục Minh” ở vùng Quảng Đông, Đài Loan tan rã, một số tướng đã nhất quyết không đầu hàng, mang quân binh và gia quyến vượt biên xuôi về phương Nam.
  
Trong số này, có danh tướng Trần Thượng Xuyên vào đất Biên Hòa (Đồng Nai) xin chúa Nguyễn tá túc và khai khẩn đất đai. Tướng Dương Ngạn Địch cùng thuộc hạ, gia quyến đến khai khẩn vùng đất Mỹ Tho.
 
 Cùng bỏ xứ tha phương còn có một thương buôn Mạc Cửu, nhưng điểm đến là đất nước Chân Lạp Hạ được vua xứ Cao Miên (Campuchia) trọng đãi.
  
Nhưng vì nội bộ triều chính rối ren, triều thần gièm pha và Hoàng hậu phải lòng người thương nhân này nên vua Cao Miên đã ban cho Mạc Cửu một chức quan nhỏ và đày sang vùng đất mới Hà Tiên còn hoang vu rậm rạp để cai quản và mở mang bờ cõi. Và câu chuyện về danh nhân Mạc Cửu bắt đầu trang sử mới khai khẩn, mở mang đất Hà Tiên của Việt Nam.
 
 Mạc Cửu hay còn gọi là Mạc Hính Cửu (1655 - 1735), là một thương gia người Hoa Quảng Đông có công khai phá, hình thành vùng đất Hà Tiên (Kiên Giang) vào khoảng đầu thế kỷ 18 ở Việt Nam.
 
 Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức chép: Hà Tiên vốn là đất cũ của Chân Lạp, tục gọi là Mường Khảm, tiếng Tàu gọi là Phương Thành.
  
Ban đầu có người tên là Mạc Cửu gốc xã Lê Quách, huyện Hải Khang, phủ Lôi Châu, tỉnh Quảng Đông, vào thời Đại Thanh, niên hiệu Khang Hy thứ 19 (1680), nhà Minh mất hẳn (nhưng mãi đến năm Khang Hy thứ 19, vùng Quảng Đông mới bình định xong).
  
Mạc Cửu không khuất phục và nhận thấy chính sách buổi đầu của nhà Đại Thanh không thể chấp nhận được. Do vậy mà ông mới chừa tóc, không buộc đuôi sam rồi chạy qua phương Nam, trú tại phủ Nam Vang nước Cao Miên.
 
 Ông thấy ở phủ Sài Mạt của nước ấy, người Việt, người Trung Hoa, Cao Miên, Đồ Bà (Chà Và)…thường tụ tập mở trường đánh bạc để lấy xâu, gọi là thuế hoa chi, nên đã thầu mua thuế ấy nên kinh doanh chẳng bao lâu mà trở nên giàu có. Cũng có giai thoại kể rằng, tình cờ ông đào được một hầm bạc mà bỗng trở thành giàu có.
 
 Từ đó, Mạc Cửu chiêu mộ dân Việt Nam lưu tán ở các xứ Phú Quốc, Lũng Kỳ (hay Trũng Kè, Lũng Cả -réam), Cần Bột (Cần Vọt - Kampôt), Hương Úc (Vũng Thơm - Kompong Som), Giá Khê (Rạch Giá), Cà Mau lập thành bảy xã thôn.
 
 Tương truyền ở đây thường có Tiên nữ xuất hiện tắm trên sông, do đó mới đặt tên vùng đất mới khai khẩn là Hà Tiên (Tiên trên sông). Có tài liệu cho rằng, Mạc Cửu bỏ tiền ra mua chức quan Ốc Nha và cai quản luôn xứ này.
  
Mạc Cửu xuất thân là một thương nhân đất Quảng Đông, là người có óc tổ chức, kinh doanh nên ông chiêu tập dân xiêu tán người Hoa, Việt mở phố xá, xây thành lũy, đẩy mạnh khai hoang lập ra bảy thôn trải dài ven biển từ Kompong Som (Chân Lạp) kéo dài đến tận Cà Mau.
 
 Với chủ trương để cho dân khai hoang tự do, không thu tô thuế, chỉ đứng ra tổ chức mua sản phẩm để bán lại cho khách buôn. Chính điều này đã quy tụ dân cư đến Mang Khảm ngày càng đông. Ghe thuyền các nơi, kể cả nước ngoài đến mua bán tấp nập.
  
Sự thịnh vượng khiến cho đất này gặp tai họa. Trong khoảng thời gian từ 1687-1688, quân Xiêm vào cướp phá Mương Khảm, bắt Mạc Cửu đưa về Xiêm ở Vạn Tuế Sơn. Sau đó, ông trốn về Lũng Kỳ (Lũng Cả), dân xiêu tán tụ về với ông ngày một đông, nhưng do địa thế chật hẹp, khoảng năm 1700, ông trở về Phương Thành (Hà Tiên).
 
Năm 1680, Mạc Cửu đã lập ấp rải rác từ Vũng Thơm, Trủng Kè, Cần Vọt, Rạch Giá, Cà Mau. Hà Tiên trở thành thương cảng quan trọng, thôn ấp định cư nằm sát mé biển, thuận tiện cho ghe thuyền tới lui, hoặc ở đất cao theo Giang thành, sông Cái Lớn, sông Gành Hào, Ông Đốc để canh tác.
 
 Ông lập ra 7 sòng bạc dọc bờ biển: Mán Khảm, Long Kỳ, Cần Bột, Hương Úc, Sài Mạt, Lình Quỳnh và Phú Quốc (đảo Koh Tral).
 
   Thủ phủ đặt tại Cảng Khẩu (còn gọi là Mán Khảm, Kan Kao, Căn Khẩu, Căn Kháo, Căn Cáo).Tiếng đồn vang xa, lưu dân gốc Hoa từ khắp nơi trong vịnh Thái Lan xin vào đây lập nghiệp, dần dần vùng đất này trở thành một lãnh địa phồn vinh với tên gọi mới: Căn Khẩu Quốc. Đảo Koh Tral cũng đổi tên thành Phú Quốc (vùng đất giàu có).
 
Lúc này ở Gia Định, các chúa Nguyễn đã lập xong phủ Gia Định. Người Việt và các di thần người Hoa đang định cư yên ổn. Nhận thấy muốn tồn tại phải có thế lực đủ mạnh để bảo vệ, che chở cho lãnh địa mà ông đã tốn công gây dựng.
  
  Sau khi cân nhắc, năm 1708 Mạc Cửu cùng thuộc hạ là Lý Xá, Trương Cầu đem lễ vật đến xin thần phục.
 
  Việc này, trong sách Gia Định thành thông chí chép: “Mạc Cửu sai thuộc hạ là Trương Cầu, Lý Xá dâng biểu trần trình lên kinh đô Phú Xuân khẩn cầu xin được đứng đầu trông coi đất ấy.
 
  Tháng 8 mùa thu năm thứ 18 Mậu Tý (1708), chúa Nguyễn Phúc Chu, chuẩn ban cho Mạc Cửu làm Tổng binh trấn Hà Tiên và phong tước là Cửu Ngọc hầu. Mạc Cửu lo xây dựng dinh ngũ và đóng binh tại Phương Thành (Hà Tiên), từ đó dân càng qui tụ đông đúc.
  
Tháng 4 mùa hạ năm thứ 21, Tân Mão (1711), Tổng binh trấn Hà Tiên Cửu Ngọc hầu Mạc Cửu đến cửa khuyết tạ ơn.
 
  Tháng 5 mùa hạ năm thứ 11, Ất Mão (1735) đời chúa Nguyễn Phúc Chú Tổng binh Hà Tiên Cửu Ngọc hầu Mạc Cửu mất, thọ 78 tuổi, con trưởng dòng chánh là Mạc Tông tự là Thiên Tứ (hiệu Sĩ Lân Thị, Thụ Đức Hiên) dâng cáo tang”.
 
Theo Sổ tay hành hương đất Phương Nam, Mạc Cửu được truy phong Khai trấn Thượng trụ quốc Đại tướng quân Vũ Nghị Công.
  
Mạc Công miếu, khi xưa thờ Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích, Mạc Tử Sanh. Hiện nay là Đền thờ họ Mạc nơi chân núi Bình San.
 
 Tác giả Trương Minh Đạt căn cứ vào lời tựa của Hà Tiên thập vịnh, do Mạc Thiên Tứ viết năm 1737: Trấn Hà Tiên ở An Nam xưa thuộc vể đất hoang vu xa xôi.
  
Từ khi đất Tiên quân (chỉ Mạc Cửu) khai sáng đến nay hơn 30 năm, người dân mới được an cư, biết đo lường trồng trọt, để suy ra rằng Mạc Cửu không thể ở và mở mang xứ Hà Tiên sớm hơn năm 1700.
  
Việc Mạc Cửu “cũng không ở Nam Vang xuyên suốt”, được tác giả giải thích như sau : “Bởi năm 1687, Phó tướng Hoàng Tiến nổi loạn giết chết chủ tướng Dương Ngạn Địch, rồi chiếm lĩnh dòng sông Tiền, phong tỏa đường đi Nam Vang và cướp bóc người Cao Miên, khiến họ căm ghét.
  
 Thêm nữa, năm 1688, tại Nam Vang xảy ra một sự kiện: “Với sự giúp đỡ của Việt Nam và một đơn vị lính đánh thuê người Hoa, Ang Non (Nặc Nộn) đã có một cố gắng nữa để chiếm ngôi vua.
  
Mặc dù chiếm được Nam Vang, Ang Non không thể giành được thắng lợi quyết định”. Do đó, người Miên ở trong thành nổi giận, họ truy lùng người Hoa để tàn sát.
  
Biến cố này quá ác liệt đến nỗi Mạc Cửu phải tìm đường thoát thân. Vì sông Cửu Long bị phong tỏa nên Mạc Cửu phải trốn chạy qua Xiêm.
 
 Ông được vua Xiêm cho ra bãi Vạn Tuế Sơn ở khoảng mười năm, đến năm 1699 Mạc Cửu mới về Lũng Kỳ, mở ra 7 xã thôn.
 
 Mạc Cửu không bị Xiêm bắt, điều đó cũng đã được Mạc thị gia phả của Vũ Thế Dinh xác nhận: Tướng nước Tiêm (Xiêm La) thấy ông Thái Công (Mạc Cửu) người có vẻ hùng nghị, nên rất yêu mến, rồi dụ khéo ông đem về nước, ông bất đắc dĩ phải theo về Tiêm La. Vua thấy dung mạo ông, rất vui mừng và giữ ông ở đấy.
 
 Sau ông phải nói khéo với những bầy tôi thân cận của vua nước Tiêm, xin cho ông ra ở nơi bãi bể núi Vạn Tuế, thuộc địa của nước Tiêm. Chợt gặp lúc nước Tiêm có nội biến, ông mới ngầm đem những người dân theo ông cùng về đất Long Cả (Lũng Kỳ).
 
 Điều này chứng tỏ, nhân biến cố vừa kể trên, Mạc Cửu bị dụ chạy lánh nạn qua Xiêm, chứ không phải bị quân Xiêm đến cướp phá Hà Tiên rồi bắt đi.
  
Không biết Mạc Cửu có bao nhiêu vợ, chỉ biết theo “Gia định thành thông chí”, thì ông có người vợ tên Bùi Thị Lẫm, người huyện Đồng Môn (Biên Hòa) và sinh được con trai đầu lòng tên Mạc Sĩ Lân tức Mạc Thiên Tứ.
 
 Căn cứ bia mộ của bà ở khu mộ dòng họ Mạc ở núi Bình San (Hà Tiên), do chính Mạc Thiên Tứ lập, thì bà được chúa Nguyễn cho phép mang họ Nguyễn.
 
  Thi sĩ Đông Hồ có thơ nói về công trạng của hai cha con Mạc Cửu và Mạc Thiên Tứ như sau:
  
Chẳng đội trời Thanh Mãn
Lần qua đất Việt bang
Triều đình riêng một góc
Trung hiếu vẹn đôi đường
 
 Trúc thành xây vũ lược
Anh Các cao văn chương
Tuy chưa là cô quả
Mà cũng đã bá vương
  
Bắc phương khi vỡ lở
Nam hải lúc kinh hoàng
Giang hồ giữa lang miếu
 Hàn mạc trong chiến trường
Đất trời đương gió bụi
Sự nghiệp đã tang thương...
 
 Vào sáng ngày 7 tháng 9 năm 2008, tại thị xã Hà Tiên, UBND Tỉnh Kiên Giang đã khánh thành tượng đài danh nhân Mạc Cửu và kỷ niệm 300 năm ngày thành lập trấn Hà Tiên (1708-2008).
 
 Khi chúa Nguyễn cho Mạc Thiên Tứ nối nghiệp cha vào năm 1735 ông đã hết lòng phụng sự cơ nghiệp nhà chúa.
  
Ông đã giúp chúa Nguyễn trong việc phòng giữ sự xâm lăng của quân Xiêm La, Chân Lạp và bọn cướp biển, ngoài ra còn giúp mở mang phát triển kinh tế vùng này. Năm 1756 ông đã thi hành nhiệm vụ của một đặc sứ và giúp chúa Nguyễn mở rộng lãnh thổ miền Cửu Long.
 
 Dưới sự dẫn dắt của Mạc Thiên Tứ, lần lượt hai đời vua Chân Lạp là Nặc Nguyên và Nặc Tôn đều thần phục chúa Nguyễn, dâng cho chúa Nguyễn đất Tầm Bôn (vùng Tân An), Lôi Lạp (Gò Công) và Kampong Luôn ( tiếng Việt là Tầm Phong Long).
 
 Thời điểm đó có thể nói vùng Hà Tiên bao gồm cả vùng Hậu Giang ngày nay kinh tế và xã hội phát triển nhờ công của Mạc Thiên Tứ.
 
 Tại thủ phủ Hà Tiên, Mạc Thiên Tứ đã thành lập “Tao Đàn Chiêu Anh Các” là nơi gặp gỡ giao lưu giữa các thi nhân, danh sĩ, tạo nên một nền văn học thi ca rực rỡ danh tiếng bậc nhất của miền Nam.
 
 Ảnh hưởng của nhóm Chiêu Anh Các lan rộng ra khỏi phạm vi trấn Hà Tiên, danh sĩ Nguyễn Cư Trinh- ở Gia Định cũng thường xuyên đến Hà Tiên gặp gỡ xướng họa với các thi hữu trong Chiêu Anh Các.
 
 Tác phẩm nổi tiếng nhất của Mạc Thiên Tứ là “Hà Tiên thập vịnh” vịnh về mười cảnh đẹp nhất của Hà Tiên được Mạc Thiên Tứ cho khắc in năm 1737 bao gồm: Kim Dữ lan đào và Bình San điệp thúy, Tiêu Tự thần chung và Giang Thành dạ cổ, Thạch Động thôn vân và Châu Nham lạc lộ, Đông Hồ ấn nguyệt và Nam Phố trừng ba, Lộc Trĩ thôn khê và Lư Khê ngư bạc.
   
Vào năm 1776 khi quân Tây Sơn đánh thành Gia Định, Mạc Thiên Tứ vẫn giữ lòng trung thành với chúa Nguyễn, cùng chúa Nguyễn chạy qua Xiêm La trốn.
 
 Nhưng do nghe lời dèm pha, vua Xiêm La đã giết hại nhiều người thân trong gia đình ông, bản thân ông cũng bị bắt giam tra hỏi, quá phẫn uất ông đã tự tử và chết trên đất Xiêm La (Thái Lan).
 
  Sau này con cháu họ Mạc tiếp tục phò tá làm quan cho chúa Nguyễn và triều đình nhà Nguyễn cho đến đời vua Minh Mạng thì chấm dứt vì một số con cháu họ Mạc nhận lãnh chức từ Lê Văn Khôi và do đó bị xem dính líu tới vụ việc Lê Văn Khôi chống lại triều đình.
 
 Về sự ra đời của Mạc Thiên Tứ trong gia phả nhà họ Mạc ghi lại rằng: vào đêm mùng 7 tháng 3 năm 1706, tại Lũng Cà tự nhiên nước sông bắn vọt lên trời, lúc ấy xuất hiện tượng vàng cao bảy thước, tỏa sáng cả một khúc sông.
 
  Một vị quan trông thấy ngạc nhiên nói với Mạc Cửu : “Đây là điềm có người tài xuất hiện, thật là phúc đức”. Mạc Cửu liền cho người đưa tượng vàng ấy lên bờ, nhưng không có cách nào di chuyển được, bèn xây chùa nhỏ bên bờ sông để thờ.
 
 Vào đêm ấy, Mạc Thiên Tích ra đời. Mạc Thiên Tích thông minh, hiểu rộng, văn võ song toàn. Năm 1735 Mạc Cửu mất, Mạc Thiên Tích kế tục sự nghiệp của cha. Đầu xuân 1736, được chúa Nguyễn phong Đô đốc trấn Hà Tiên .
 
 Từ thị xã Hà Tiên đến Ao Sen chừng 800 mét là tới chân núi Bình San, còn gọi là núi Lăng vì trên núi có lăng mộ Mạc Cửu, các vị phu nhân, con cháu và tướng lĩnh của họ Mạc.
  
 Từ chân núi đi lên sẽ bắt gặp cổng đền thờ họ Mạc, có hai câu liễn đối bằng chữ Hán do nhà Nguyễn ban tặng:  “Nhất môn trung nghĩa gia thinh trọng. Thất diệp phiên hàn quốc lũng vinh”
 
 (Một nhà trung nghĩa, danh thơm cả họ. Bảy lá giậu che, cả nước mến yêu)
 
 Cả lăng và đền thờ Mạc Cửu đều do Mạc Thiên Tích thiết kế, xây dựng từ năm 1735 đến năm 1739. Mặt tiền đền quay về hướng Đông, nơi có núi Tô Châu với dòng lưu thủy Đông Hồ, lưng tựa vào vách núi hình vòng cung vững chãi, bên trái là núi Bát Giác; bên phải là Đại Kim Dự.
  
Phần lăng mộ Mạc Cửu nằm giữa những bức tường kiên cố, các bậc thềm đều cẩn đá xanh, có tảng dài đến ba mét, do các nhà buôn Trung Hoa thời bấy giờ chở từ Quảng Tây sang tặng.
  
Ngôi mộ lớn nhất của Mạc Cửu có hình bán nguyệt khoét sâu vào núi, núm mộ có hình dáng như một con trâu nằm (thế tọa ngưu). Lăng Mạc Cửu theo kiểu Tàu, bên trái đắp nổi đầu rồng, bên phải đắp đầu hổ (Tả Thanh Long, Hữu Bạch Hổ).
  
Lần theo các lối mòn và những bậc thềm là đến mộ phần của gia đình và tướng tá dòng họ Mạc. Phía dưới lăng Mạc Cửu là mộ bà Nguyễn Thị Hiếu Túc, vợ Mạc Thiên Tứ (trái) và mộ Mạc Tử Hoàng (phải) rồi đến mộ Mạc Thiên Tích (cũng giống như mộ cha nhưng bày trí khiêm nhường hơn).
 
  Đi vòng theo chân núi chừng 3km, du khách sẽ bắt gặp một ngôi chùa do Mạc Thiên Tích xây cho nàng thứ thiếp là Phù Cừ tu hành. Đó là chùa Phù Dung.
 
  Đền thờ họ Mạc cũng có một câu chuyện bí ẩn liên quan đến người con gái thứ năm của Mạc Thiên Tích. Theo sách Đại Nam nhất thống chí, ngôi đền thờ này thờ ba người họ Mạc:
 
 Vũ Nghị Công Mạc Cửu, Quốc lão Mạc Thiên Tích, Chính Lý Hầu Mạc Tử Sanh. Bên hữu thờ các con cháu dòng họ Mạc, bên tả có bài vị phu nhân Thái Thái mẹ Mạc Cửu, phu nhân Nguyễn Thị Thủ vợ Mạc Thiên Tích, tiểu thư Mạc Mi Cô.
 
Huyền thoại về tiểu thư Mạc Mi Cô và lời sấm truyền kho báu họ Mạc
 Người đương thời không một ai dám kể lại chuyện gia đình Đô đốc Mạc Thiên Tứ với việc sinh cô tiểu thư kỳ dị Mạc Mi Cô.
 
Nên mọi người chỉ biết mơ hồ về chuyện sinh nở của Hiếu Túc Nguyễn phu nhân, vợ chánh của Đô đốc Mạc Thiên Tứ, có một điều gì bí ẩn lạ lùng. Là chuyện lành hay dữ, chuyện tốt hay xấu không ai tường tận nhưng cũng chính vì thế mà màn bí ẩn bao trùm lên phủ thành huyền thoại.
  
Hình như đã từng có chuyện trong Mạc phủ cấm tiết lộ việc này. Nhưng một thời gian sau, nhân lời nói hớ của một thị nữ trong phủ khi về thăm nhà, và nhân một tờ giấy tình cờ bắt được trong mình người thợ đá chết vì bạo bịnh, thì câu chuyện bí mật về tiểu thư kỳ dị Mạc Mi Cô trong phủ họ Mạc được kể ra nhân gian rất huyền bí.
 
 Theo như cuốn Mạc Thị Gia Phả của ông Trần Thiên Trung thì Tông Đức Hầu Mạc Thiên Tích ăn ở với bà Hiếu Túc Chánh Thất phu nhân Nguyễn Thị Thủ được tất cả là 7 người con: 6 trai, 1 gái.
 Cô con gái duy nhất tên là Mạc Mi Cô. Tương truyền rằng bà sanh liên tiếp năm người con trai.
 
Bà thầm cầu mong lần sau đổi bầu con, sanh được một Tiểu Thư cho vui cửa vui nhà. Đô Đốc và Hiếu Túc thường đi chùa chiền, miếu mạo cầu khẩn Phật Trời và làm nhiều việc thiện tích đức.
 Một đêm bà nằm mộng, thấy một tiên nữ từ trên trời bay xuống trên tay bồng một em bé gái rất xinh.
 
 Đáp xuống trước mặt phu nhân rồi nói: “Ta cho ngươi đó”. Liền thảy đứa bé vào lòng phu nhân rồi biến mất. Giật mình tỉnh giấc, phu nhân nửa mừng nửa lo. Quả nhiên chỉ sau một thời gian ngắn bà cấn thai. Bà rất mong ngày sanh đến sớm để gặp mặt coi trai hay là gái.
 
 Bỗng một hôm phu nhân chuyển dạ sanh non, bụng đau quặn thắt, mồ hội hột tuôn ra. Phu nhân nhẩm tính phải còn gần một tháng nữa mới đúng ngày sinh nhưng sao bụng bà lại chuyển dạ đau dữ dội.
  
Phu nhân lăn lộn rên la, các tỳ nữ xoa bóp tay chân liên hồi. Các lương y tài giỏi nhất trong Trấn cũng được triệu tập đến kê thuốc cho bà.
 Tiếng đại hồng chung ở ngôi Tiêu tự đổ liên hồi thay cho lời cầu nguyện của dân chúng trong Trấn khấn cầu bà được mẹ tròn con vuông.
 
Cuộc trở dạ của phu nhân sang đến ngày thứ ba, bà đã sanh ra được một tiểu thư như ngọc như ý vô cùng xinh đẹp.
 
Nước da trắng hồng như bột, gương mặt trái xoan, mũi dọc dừa, đôi môi đỏ như son, đôi mắt phượng đen nhánh. Nhìn gương mặt giống như Tiên Đồng, Ngọc Nữ chốn thiên cung. Nhưng có điều đặc biệt là Tiểu thư không giống như các trẻ sơ sinh khác.
 
Tóc cô chấm dài tới gót không giống tóc trẻ sơ sinh, răng mọc đủ hai hàm như người đã trưởng thành, cô cười nói rành rẽ như đứa trẻ lên năm lên bảy. Khi sanh ra tiểu thư cũng không khóc như mọi trẻ khác.
  
Khi đi thị sát trở về, Đô Đốc hay tin phu nhân đã sanh được một tiểu thư thật xinh đẹp. Ông vội vàng đến thăm, khi bước vào phòng nhìn con thì thấy Tiểu thư nhấp nháy đôi mắt nhìn, miệng với đôi môi mọng đỏ chúm chím cười. Sau giây phút ngỡ ngàng ông cũng ra vẻ mừng rỡ.
 
Ông đặt tên cho Tiểu thư là Mạc Mi Cô. Sau đó Đô Đốc về tư dinh ngồi suy tư tìm sách cổ viết về những hiện tượng đầu thai thoát kiếp và tự hỏi: “Đây là Tiên nữ đầu thai hay là yêu quái hiện hình, ta phải đối xử sao đây?”.
 
 
 
 
Ít hôm sau, có một phái đoàn 4 người từ Quảng Đông đến ra mắt Đô Đốc. Trong số những người này, có hai người là thầy Địa lý giỏi xem phong thủy, phong thổ. Còn hai người là Pháp sư biết hô phong hoán vũ, xoáy đậu thành binh, có bùa phép trừ tà ếm quỷ.
 
 
 
 
Lúc bàn quốc sự xong chia tay, thầy địa lý thưa: “Thưa Đô Đốc. Đúng là Tiên Vương (Chỉ Mạc Cửu) chọn chỗ an nghỉ không lầm, nằm ngay hàm rồng con cháu sau này đều là công hầu khanh tướng cả.
 
 
 
 
Đây chính là con Ly Long tu lâu năm sắp thành Rồng. Đầu nó chính thật là ở đây, mõm nó là mũi Đại Kim Dự, mình nó uốn khúc nằm dọc theo bờ biển này của rặng núi Nai.
 
  Nó sắp sửa thành rồng không nên làm kinh động nó. Nếu làm kinh động nó sẽ vùng vẫy bay lên làm sụp đổ hết cả dinh Trấn này”. Đô Đốc Mạc Thiên Tứ ngạc nhiên hỏi: “Vậy ta phải làm mới không kinh động nó ?”.
 
Mộ của tiểu thư Mạc Mi Cô
“Thưa Đô Đốc, muốn không làm kinh động nó thì đừng tạo chiến tranh ngay trung tâm dinh Trấn. Điều này thì có hai cách: một là ta chịu hòa với địch, hai là ta dùng hoàn toàn lực quyết đánh thắng giặc để chúng phải đầu hàng không sang đây quấy nhiễu ta nữa. Chỉ có hai điều này sẽ tránh được dãy núi Bình San nơi Giao Long yên nghỉ. Tất cả đều do Đô Đốc mà thôi”.
 
 Mạc Đô Đốc nghe nói vậy, trầm ngâm suy nghĩ rồi hỏi việc Pháp sư. Vị Pháp sư liền bẩm báo: “Thưa Đô Đốc. Quả đúng là âm khí yêu quái sắp bao trùm Trấn Hà Tiên, nặng nhứt là phía Tây Nam Trấn.
 
 Chỉ còn phía Đông Bắc mà thôi. Nhưng hiện nay yêu khí tích tụ trong dinh. Nếu Đô Đốc không trừ khử sớm thì e sợ cơ nghiệp nhà Mạc của ngài không tránh khỏi điều tai họa. Nghe đến đây, Đô đốc toát mồ hôi trán vì cảm thấy rất lo nên hỏi kế trừ khử yêu ma.
 
Vị pháp sư cho biết, sẽ cắm bùa bốn góc thành không cho con yêu này thoát được. Sau đó tôi phái người đến bắt nó vào thùng phép thế là yên. Nhưng e sợ ngài chẳng bằng lòng.
 
 Đô đốc ngạc nhiên hỏi vì sao sợ chẳng bằng lòng với việc làm tốt đẹp phải làm. Pháp sư nhìn Đô đốc ngập ngừng một hồi lâu, đơi thúc giục mấy lượt mới nói: “Yêu quái chính thật là Tiểu thư vừa mới sinh ra đó”
Câu phán xanh rờn của pháp sư như sét đánh ngang đầu Đô đốc khiến ngài bần thần, chóng váng ngây người ra rất lâu. Là một danh tướng trận mạc, quản lý bao dân cơm no áo ấm, thái bình một cõi bấy lâu, nhưng cơ trời đã định làm sao ngài có thể ngờ được. 
 
 Tiểu thư Mạc Mi Cô là ai ? Đó là con gái của Mạc Thiên Tích và là cháu nội của ông Mạc Cửu ở Hà Tiên.
  
 Từng bất an về vị thế xây lăng cho cha Mạc Cửu và lo xa cho hậu thế họ Mạc sau này nên Đô đốc mới cho vời 4 vị thầy địa lý, pháp sư từ quê hương Quảng Đông lặn lội ngàn dặm đến đây. Đô đốc vẫn biết chuyện cơ trời : tin là có, không tin là không có. Nhưng nếu trời đã định, đã chừa một lối thoát thì sao sao không chọn lấy điều an lành nhất ?
 
 Khi tiễn các thầy phong thủy, pháp sư ra về, còn lại một mình trong thư phòng, Đô đốc Mạc Thiên Tích dằng vặt suy tư: Thật khó mà mở lời  nói cho phu nhân biết điều này, vì đứa con gái là ước nguyện bấy lâu của hai vợ chồng.
 
Nhưng mà không làm theo lời pháp sư thì cơ nghiệp nhà Mạc ngày mai sẽ ra sao?
  
Xưa nay có ai cãi lại ý trời. Lòng đang còn ngổn ngang bao tâm sự rối bời như cuộn tơ vò, muốn gỡ trong một lúc là không thể.( ảnh Núi Pháo Đài còn được gọi là núi Kim Dự, ở sát vịnh Thái Lan, thuộc phường Pháo Đài, thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Núi nằm về phía Tây Bắc bãi biển Mũi Nai.)
  
Đô đốc giật mình, hình như đã mấy ngày rồi bận bịu việc chung việc riêng không thấy mặt con gái cũng thấy nhớ nhớ.
 
  Cô tiểu thư trông rất kháu khỉnh, xinh xắn làm sao. Ông thả những bước dài trên hành lang đến phòng của phu nhân.
 
 Khi vừa bước đến cửa buồng, đã nghe tiếng trẻ con đang cười the thẻ với phu nhân rất vui vẻ, lòng người cha dậy nên một cảm giác hạnh phúc trào dâng. Phu nhân vui mừng quay qua nói với Tiểu thư Mạc Mi Cô rằng: “cha đến thăm con kìa!”.
  
Bỗng Tiểu thư Mạc Mi Cô quay mặt khóc thét lên, gương mặt lúc nãy còn hồng hào, bụ bẫm giờ bỗng trở nên trắng bệt, tái mét như một đứa trẻ ốm nặng, liền mở lời nói rành mạch như một người lớn: “Ổng có thương yêu gì tôi đâu mà thăm viếng. Ổng rước bọn họ đến giết tôi mà”.
 
 Đô Đốc và phu nhân nghe con nói như vậy, giật mình kinh hãi tột cùng. Có thể nào một đứa trẻ sơ sinh lại nói bằng giọng của người lớn tuổi?. Vừa kịp trấn an tinh thần, Đô đốc tiếp lời luôn:
  
“Không….Không…cha không có…họ đến chỉ là…”. Đô đốc chối vội mà quên phắt việc tiểu thư chỉ là một đứa trẻ sơ sinh. Phu nhân sững sờ như một người vừa rơi vào cõi mộng, chưa tỉnh giấc chiêm bao. Trong lúc Đô đốc như một người phạm tội bị bắt quả tang, bị vạch trần mà không thể nào ngờ được.
 
 Nhận diện ra cơ trời bởi đứa bé sơ sinh trong buồng đã biết hết mọi việc bàn kín bên ngoài, càng làm cho Đô đốc nghĩ mãi về lời báo ứng mà mấy vị thầy vừa phán báo. (ảnh bên  Núi Đá Dựng Núi có tên chữ là Châu Nham Sơn - một thắng cảnh đẹp, còn mang nét hoang sơ, thuộc xã Mỹ Đức, thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang )
  
Thầy địa lý cho rằng không nên tạo nghiệp trong nhà sẽ bình an, thịnh vượng còn vị pháp sư nọ khuyên nên trừ yêu để bảo vệ gia tộc họ Mạc.
  
 Biết nghe ai bây giờ ? Ngẫm lại những chuyện dị thường của tiểu thư Mạc Mi Cô, Đô đốc thấy sóng lưng rờn rợn… đứa bé mới mấy ngày tuổi mà tóc đã đen dài, biết nói chuyện thiên cơ, mắt nhìn như một người đã trường thành, răng mọc đều đủ nhưng một người đầu thai…
  
Giữa đêm khuya, ngoài trời tối đen như mực, không sao nhìn rõ được cảnh vật. Nhưng trong tiền sảnh dinh Trấn vẫn sáng rực bởi những ngọn đèn lồng treo lủng lẳng trước hàng hiên bị gió đưa đẩy lung lay chậm chờn huyền ảo. Chim rừng đầu núi thỉnh thoảng buông từng tiếng gọi nhau rời rạc nghe buồn dễ sợ.
  
Giữa lúc này có hai bóng kẻ ôm gì trong tay, kẻ vác một hộp vuông dài len theo bóng hàng cột tiến sâu vào cửa buồng.
  
Hai người đang đứng chỉ trỏ bàn cách vào phòng. Bỗng nghe từ trong phòng có tiếng trong trẻo phát ra: “Họ Mạc ta đã hết thời rồi. Các người cứ làm phận sự”.
 
Nghe thế, hai bên hành thích sợ quá hoảng hồn bỏ chạy bán mạng trong đêm. Phu nhân nghe tiếng động vội đến thăm Tiểu thư, thấy Tiểu thư Mạc Mi Cô nằm bất động không giống như thường nhựt khi gặp bà Tiểu thư cười.
 
 (ảnh bên Núi Thạch Động, Thạch Động nằm kề quốc lộ 17, cách thị xã Hà Tiên 3km.Đó là một tảng đá xanh khổng lồ cao 80m hình mũ lông của kỵ mã ngự lâm quân, mọc trơ trọi giữa một vùng toàn đất.Thạch Động còn được gọi là Thạch Động Thôn Vân (động đá nuốt mây) vì động ở độ cao 50m. Vào lúc sáng tinh mơ, những tảng mây trắng xốp nhẹ như bông là là bay qua đỉnh động rồi bị cản. Mây dừng lại rồi từ từ tỏa quanh cửa động gây ấn tượng như miệng động đang nuốt mây. )
  
Phu nhân kêu la khóc lóc làm vang động dinh phủ. Đèn đuốc được thấp sáng lên, bóng người tới lui xôn xao trong dinh Trấn. Một lúc sau tiếng đại cổ (trống) trên đầu thành cũng thúc giục liên hồi.
 
Tiếng chuông trống vang rền làm cho nhân dân trong Trấn giật mình. Tiếng chuông trống lần này khác hơn lần trước mới cách đây mấy bữa. Sau đó họ cũng hiểu ra là Tiểu thư họ Mạc đã qua đời...
  
 Đám Tang Tiểu thư Mạc Mi Cô tuy là trẻ sơ sinh nhưng được tổ chức long trọng như hàng vương tôn công nữ. Ngôi mộ của Tiểu thư nằm ở phía Tây núi Bình San dưới chân mộ ông nội (Mạc Cửu).
 
 Kiến trúc cũng hoành tráng không thua gì mộ của các bậc vương phi. Sau đó, Phu nhân cấm tất cả người trong nội phủ không được nói gì về Tiểu thư. Chỉ nói Tiểu thư chết vì bạo bệnh mà thôi. Nếu ai trái lịnh sẽ bị nghiêm trị.
  
Riêng bà thì thay đổi tánh tình, rất nghiêm khắc với kẻ hầu trong dinh. Ngay khi mọi việc vừa xong, thì Mạc Đô đốc cũng vừa đi duyệt binh về, và ông chỉ kịp truyền khắc trên mộ chí mấy chữ giản dị: Tiểu thư Mạc Mi cô chi mộ. (thường gọi là mộ Cô Năm)
  
Theo nữ sĩ Mộng Tuyết, tiểu thư Mạc Mi cô “bất ngờ phát ra tiếng nói”, để đọc một bài Sấm có nội dung như sau :
  
Bờ tre xanh xanh
Hái lá nấu canh
Canh ăn hết canh
Vị cay thanh thanh
 
 Trời tây bóng ngả chênh chênh
Soi vào hang đá long lanh ngọc vàng.
Vàng trong lòng đá
 Vàng chói sáng lòa
Vọng lên lầu các nguy nga
Ao sen nở trắng trước tòa khói hương.
 
Thực hư về lời sấm về kho báu họ Mạc
 
Sau khi giới thiệu bài sấm trên trong sách Văn học Hà Tiên, Thi sĩ Đông Hồ viết: “Đọc xong bài sấm ai mà không nghĩ đây là một bài thần chú chỉ dẫn để tìm đến một kho tàng bí mật nào đó của họ Mạc :
 
“Soi vào hang đá long lanh ngọc vàng.
Vàng trong lòng đá
Vàng chói sáng lòa...”
 
 Nếu đem các đầu mối đứt khúc của câu chuyện chắp nối lại, chúng ta đoán như thế này: Bà phu nhân họ Nguyễn (chánh thất của Mạc Thiên Tứ) có giấu một kho tàng ở đâu đó. Người thợ đá lãnh việc chạm bài chỉ dẫn này trên đá phải tuyệt đối giữ bí mật công việc của mình. Nhưng người thợ đá bỗng chết vì bạo bệnh.
 
Cho nên những dòng chữ ghi trên mảnh giấy kia, phút chốc biến thành bài sấm thiêng liêng do chính miệng tiểu thư Mạc Mi Cô đọc lên, để đánh lạc hướng sự theo dõi của những người muốn tìm dấu kho vàng.
 
  Nhưng kiểm chứng lịch sử chúng ta thấy có một số sự kiện trùng hợp như lời đồn truyền trong dân gian về bản đồ kho báu qua lời sấm tương truyền do chính miệng tiểu thư kỳ dị Mạc Mi Cô đọc lên.
   
Kể từ sau ngày tiểu thư qua đời, về sau Trấn Hà Tiên có nhiều biến động, chiến tranh do bọn giặc Xiêm (Thái Lan) và Chân Lạp (Campuchia) tấn công, xâm lấn.
 
 Đến khoảng năm 1780, Đô Đốc Mạc Thiên Tích nuốt vàng tự vận chết ở Xiêm, ba con là Mạc Tử Hoàng, Mạc Tử Dung và Mạc Tử Thương cũng bị giặc hành hình.
  
Đến đời cháu thứ 7 họ Mạc là Mạc Tử Khâm không có con trai nối dõi, xem như tuyệt tự, tuyệt tôn, không thực hiện tròn câu “Thất diệp phiên hàn” (Thiên -Tử - Công -Hầu- Bá -Tử - Nam).
 
 Nhiều người trong dân gian luôn tin rằng, vị thế của họ Mạc ngày xưa ở Hà Tiên như một lãnh Chúa, một tiểu vương quốc, cai trị vùng này gần một thế kỷ, trong đó thời hưng thịnh nhất được lịch sử ghi nhận ngót 80 năm (1708 – 1780). Do những điều suy tưởng, đồn đoán thêu dệt vô căn cứ đó, mà phần mộ của Hiếu Túc phu nhân mới bị đào bới với hy vọng tham lam tìm kho báu chỉ vì một bài “Sấm” truyền đời rất nhiều phi lý về sự ra đời.
  
Vào một hôm, người ta phát hiện trên đường vào mộ họ Mạc, có một xác người nằm ở vệ đường, mình mẩy đầy máu tươi. Họ liền bổng vào nhà tắm rửa lau chùi sạch sẽ.
 Xem đúng là người thợ làm mồ của dòng họ Mạc. trong mình ông có một mảnh giấy ghi những câu thơ bâng quơ vô nghĩa ý tứ không được liên tục giống như những lời huyền cơ của các vị Tiên Thánh.
 
 Sau cùng họ lại quyết là những lời giải mã chỉ dẫn đường vào kho báu. Con cháu họ Mạc cũng có rước các nhà địa lý cao thâm đến lý giải nhưng không ai giải được.
  
Mảnh giấy trong túi áo người thợ xây hầm mộ chết đột tử với sấm truyền do Tiểu thư Mạc Mi Cô đọc đã trở thành một huyền thoại nhân gian về kho báu họ Mạc.
 
Tiết Thanh minh năm Tân Hợi (1911), lấy cớ là để mở mang thị trấn Hà Tiên, viên chủ tỉnh người Pháp đã cho đoàn tù khổ sai phá đất đá ở núi Bình San và lẽ dĩ nhiên là hơn 40 ngôi mộ của dòng họ Mạc cũng thuộc diện bị khai quật.
 
Khu mộ Hiếu Túc phu nhân bị thực dân Pháp khai quật
 
 Những người hiểu chuyện biết rõ rằng đằng sau việc di dời này là âm mưu truy tìm kho báu mà rất có thể dòng họ đứng đầu “tiểu vương quốc” Hà Tiên đã cất giấu trong các hầm mộ, theo lời một bài thơ được xem như tấm bản đồ chỉ dẫn lối vào kho báu, vốn chỉ lưu truyền trong dòng họ Mạc.  
  
Tên này bày vẽ ra chuyện cần có đất đá để chỉnh trang đường sá trong nội tỉnh Hà Tiên. Tất nhiên nơi tên này chọn lấy đá xây dựng làm cầu đường đầu tiên là ngôi mộ của bà Hiếu Túc phu nhân Nguyễn Thị Thủ, chánh thất của Đô Đốc Mạc Thiên Tích chứ không thể là nơi nào khác được.
 
  Đó là ngôi mộ rất lớn, có tấm bia đề “Hoàng Việt hiếu túc thái phu nhân Mạc phủ Nguyễn tỷ chi oanh - Nhâm thân trọng xuân cốc đán”. Đoàn tù khổ sai đục đến chiều tối ngày thứ 10 mới phá được chỗ bệ thờ trước mộ bia. Lễ bốc mộ có sự chứng kiến của chính quyền và con cháu họ Mạc.
 
 Ông Mạc Tử Khâm, cháu 7 đời của Mạc Cửu, cầm nến soi vào áo quan nhặt từng mảnh xương xếp vào quách đưa về đền thờ họ Mạc chờ làm lễ cải táng. Nhiều lời đồn đại xung quanh cuộc khai quật này. Nghe nói ông Mạc Tử Khâm được chủ tỉnh Hà Tiên chia cho một cái trâm vàng có gắn ngọc quý.
  
Về sau ông Khâm túng quẫn đem bán chiếc nhẫn này cho một người Pháp tên là Chapuis đang cai quản ngọn hải đăng ở núi Pháo Đài. Từ đó gia đình Chapuis gặp nhiều điều không may...
 
 
 Sự thật về kho báu dòng họ Mạc không biết thế nào, nhưng sau khi khai quật mộ của Mạc phu nhân thì hơn 40 ngôi mộ họ Mạc còn lại được giữ nguyên, không bị  di dời nữa.
  
Cốt của bà lấy được món nào thì xướng món nấy, rửa sạch rồi đặt vào quách. Món lấy cuối cùng là răng của bà. Xong rồi đóng nắp quách lại chuyển về miếu Tam Công.
 
  Đồ vật mang theo cho bà không gì quí cả. Chỉ có cây trâm vàng cẩn ngọc thạch, hàng nhiễu tẩn liệm và bình nước, ấm trà bằng sứ mà thôi.
 
Chiếc trâm này tên Chủ tỉnh giao cho Mạc Tử Khâm giữ. Nghe đâu sau này Mạc Tử Khâm túng bấn đã mang đi bán chiếc trâm này cho một người Pháp tên Chapuis, Trưởng đài quan sát hải đăng Pháo Đài. Hài cốt của bà Hiếu túc phu nhân được cải táng trong Tam lăng ở núi Bình San.
 
 Trở lại vấn đề bài Sấm, sau này nhà thơ Đông Hồ (Lâm Tấn Phác) đọc kỹ và nghiệm thấy mấy việc như: “Gạt bỏ hết những điều chôn ngọc dấu vàng, gạt bỏ hết những chuyện về nàng Tiểu thư huyền bí. Bài thơ đó quả là một bài tiên đoán sự nghiệp của họ Mạc. mỗi câu, mỗi chữ đúng như y, phân minh từng chi tiết. Thật là lạ lùng”.
 
 Theo cách lý giải của nhà thơ Đông Hồ - Mộng Tuyết về bài sấm truyền trên thì vận số họ Mạc tuy chỉ huy hoàng trong 72 năm, không là vương là bá, nhưng thực tế không thua gì một vương quốc độc lập. Câu:
  
“Bờ tre xanh xanh
Hái lá nấu canh
Canh ăn hết canh
Vị cay thanh thanh”.
 
 Vận vào thức tế, thấy ứng vào điềm bờ tre bọc quanh núi Bình San bị phá hủy. Chữ “hết canh” tức là ám chỉ đến hết năm Canh Tuất (1910). Vị cay tức là tân, nghĩa là tiết Thanh minh năm Tân Hợi (1911) khu lăng mộ họ Mạc sẽ bị phá hủy. Hay như câu:
 
“Trời Tây ngả bóng chênh chênh
  
Soi vào hang đá long lanh ngọc vàng”
  
Là điềm ứng với việc mở được cửa mộ thì trời đã về chiều, phải soi đuốc mới tìm được chiếc trâm vàng cẩn ngọc. Trời Tây cũng ứng vào việc người Tây khai quật mộ chứ không phải người Việt.
 
Một câu hỏi đặt ra: Nguyên gốc bài sấm kia từ đâu ? Liệu có phải đã được mọi người biết từ bản dịch, viết của vợ chồng nữ sĩ Mộng Tuyết- Đông Hồ? Trong kho sách nhà lưu niệm Đông Hồ, nơi ở cuối đời của nữ sĩ Mộng Tuyết, bà Lâm Thị Hoa (cháu nhà thơ Đông Hồ) trông giữ.
 
 
 
 
Bà Hoa đã cho chúng tôi biết “tác phẩm này do bà Mộng Tuyết viết tại Sài Gòn (cũ) vào khoảng 1959-1960, chứ không phải viết ở Hà Tiên, do NXB Bốn Phương, Viện văn nghệ- Hiên sáng tác ấn hành năm 1960.
 
Ngay từ lúc tác phẩm ra đời, đã gây ra sự hiểu nhầm tai hại nhiều lần vợ chồng Mộng Tuyết- Đông Hồ phải đính chính, thật khó tin khi Mạc Cửu vào khai mở đất Hà Tiên từ năm 1700, thì lời sấm vang đến tai viên quan Pháp khai quật mộ Hiếu Túc phu nhân vào tháng 3 năm 1911, cả sấm truyền lẫn bản đồ kho báu cả hai đều không đáng tin cậy. Vậy mà, đã có không ít người luôn ôm mộng đào bới tìm kho báu từ những lời truyền vu vơ.
 
 Kho báu họ Mạc vẫn là một bí ẩn
 
  Họ Mạc là một dòng họ có công giữ bờ cõi, khai khẩn đất phương Nam, có những đóng góp to lớn trong lịch sử buổi đầu mở cõi.
  
 Đánh giá về dòng họ Mạc, Giáo sư sử học Trần Văn Giàu từng cho biết: “Cũng từ thời Mạc Thiên Tích, đất nước bao phen nổi phong ba, thù trong và giặc ngoài liên tục đe dọa vận mệnh của dân tộc.
  
Hành trạng và phép ứng xử của phần lớn các thành viên họ Mạc ở Hà Tiên có không ít những điều khiến cho hậu thế chẳng dễ gì tán thành. Nhưng họ Mạc là họ Mạc, giữa thế thái riêng ấy họ có lập trường riêng và có cách nhìn thời cuộc cũng rất riêng...”.
 
  Nhà sử học Nguyễn Khắc Thuần thì có suy nghĩ: “Dấu tích của Phương Thành xưa còn  đó, những vần thơ của các bậc tao nhân mặc khách trong Chiêu Anh Các còn ngân vang đâu đó, mười cảnh đẹp của Hà Tiên cũng đang còn đó...
  
Mộ Hiếu Túc phu nhân
  
Việc họ Mạc theo phò chúa Nguyễn là điều có thật, nhưng những gì họ Mạc đã cống hiến cho Hà Tiên, cho giang sơn một thuở cũng là điều có thật. Không ai có thể xóa bỏ quá khứ mà họ Mạc chính là một phần của quá khứ đó”.
 
Kể về Miếu thờ Tam Công (thờ Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích và Mạc Tử Sanh) là ba vị có công đầu mở mang và xây dựng Trấn Hà Tiên. Ngoài bàn thờ còn có nhiều linh vị các vị thê thiếp, con cháu cùng với những tùy tướng thân thuộc họ Mạc. Cửa cổng kiến trúc hình thức Tam Quan (một chánh hai phụ).
 
 
  Nhưng cửa phụ bên phải bị bịt kín từ lâu được kể lại từ chuyện về viên quan người Pháp xúc phạm đến oai linh của lăng mộ đã bị sét đánh chết nên từ đó cửa phụ bên trái được xây bịt kín. Bàn thờ của Mạc Mi Cô nằm ở phía tay mặt (từ trong nhìn ra). Tương truyền ngày xưa khách tham quan đến viếng Miếu.
 
 Người nào có tánh tình hiểm sâu độc ác, tham gian, dối trá đi ngang qua bàn thờ cô điều bị cô bắt cho hộc máu mà chết. Nên từ đó, du khách không dám đến Miếu cúng bái nữa. Thấy vậy, ban tế lễ xin cô khóa cổng phụ bên đó lại, vì thế khách tham quan mới dám vào Miếu. Hiện nay hình thức này vẫn còn.
  
Lời đồn đãi và truyền tụng trong nhân gian về kho báu dòng họ Mạc ở Hà Tiên không phải là không có cơ sở, xét ở một góc độ nào đó.
 
 Trong thời gian khai phá phương Nam ngót 80 năm, họ Mạc đã xây dựng Hà Tiên thành thủ phủ súng túc và trù phú.
 
 Tuy vẫn chịu thần phục dưới quyền của triều đình nhà Nguyễn, nhưng dòng họ Mạc vẫn có những quyền tự trị, tự chủ nhất định, trong điều kiện biên ải, xa kinh kỳ vạn dặm. Họ Mạc có quân đội, tài chính, ngoại giao riêng.
 
 Giai đoạn cực thịnh của “vương quốc họ Mạc” khi Mạc Thiên Tích làm Tổng binh trấn, đặc biệt là các hoạt động giao thương buôn bán rất phát triển trên các thương cảng.
  
 Theo các tư liệu lịch sử, họ Mạc ở Hà Tiên có quân đội riêng, được phép in tiền riêng, chủ trương mở rộng giao thương với cả một số nước Bắc Á và những nước Đông Nam Á, họ Mạc có đội tàu buôn hùng hậu và tàu buôn các nước dập dìu cập cảng Hà Tiên.
  
Do đó, khối tài sản họ Mạc rất lớn là chuyện bình thường, nên suy đoán trong dân gian họ sẽ chôn cất đâu đó theo tục lệ của người dân Quảng Đông-Trung Quốc.
  
Mạc Cửu, Mạc Thiên Tứ và hậu duệ họ Mạc hoàn toàn có thể tiên đoán chiến tranh xảy ra, sự thay đổi của thời thế  nên có thể đã sắp đặt cho đời sau việc này.
  
Lời sấm kia, nếu bỏ qua yếu tố huyền thoại, kỳ bí của tiểu thư Mạc Mi Cô có thể hiểu ở một góc độ khác. Hiện nay, quanh chân núi Bình San ở thị xã Hà Tiên vẫn còn tồn tại một hệ thống lăng mộ tương đối lớn và chắc chắn có nhiều bí ẩn trong đó chưa có lời giải.
 
 Theo những tư liệu của họ Mạc ghi lại từ lời kể của cụ Thiềm Văn Tường, con rể ông Mạc Tử Khâm (mất tháng 7 năm 1988) rằng: Đầu thế kỷ XX, Việt Nam dưới quyền cai trị của chế độ thực dân Pháp.
 
 Đứng đầu tỉnh Hà Tiên là viên Chánh Tham Biện Roux Serret, sau khi nghiên cứu kỹ về dòng họ Mạc cho rằng có kho báu cất giấu trong khu lăng mộ dòng họ này.
 
  Từ đó hắn lấy cớ đắp đường, xây lộ trong tỉnh lỵ Hà Tiên, rồi đào ao lấy đất và phá núi (núi Bình San ngày nay) lấy đá làm đường. Từ đó có nguyên cớ lật những ngôi mộ trong lăng họ Mạc tìm kho báu.
 
  Những ngày đào đất đá ở núi Bình San, khi đào đến lăng mộ bà Hiếu Túc Thái Phu Nhân (vợ cả Mạc Thiên Tích), viên tỉnh trưởng huy động nhiều đoàn tù khổ sai làm cật lực, 10 ngày sau thì phá được nắp quan tài ra.
 
 Nhưng không như hắn nghĩ, số “kho báu” mà tên tham quan này có được cũng chỉ là một vài cái trâm, vòng trang sức đeo tai, cổ của nhà Phật... ít giá trị. Thế là hắn tức tốc đem trả lại cho con cháu họ Mạc, ra lệnh di chuyển mộ bà Hiếu Túc Thái Phu Nhân về khuôn viên khu mộ dòng Mạc (nay nhìn từ trên xuống cách mộ Mạc Cửu khoảng 20 m, nằm bên phải).
  
Nhà nghiên cứu Hà Tiên, ông Trương Minh Đạt, Phó ban quản lý di tích lịch sử núi Bình San cười xòa nói, “tất cả chỉ là sự hiểu nhầm của lịch sử mà thôi”.
 
Theo ông, đoạn thơ sấm truyền là một tác phẩm văn học mang tên “Nàng ái Cơ trong chậu úp” của tác giả Mộng Tuyết, vợ của tác gia lớn Đông Hồ ở Hà Tiên.
 
  Đây là tác phẩm bà viết theo thể loại Ngoại ký sự tiểu thuyết, có tính chất văn học. Đoạn thơ người ta gọi là “sấm truyền” trên nằm trong chương X mang tên Tiểu Thư Mạc Minh cô. Nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt khẳng định: “Tất cả nội dung hai đoạn thơ đó do bà Mộng Tuyết hư cấu mà ra, hoàn toàn không liên quan gì đến kho báu”.
 
 Nữ sĩ Mộng Tuyết, người còn lại của “Hà Tiên tứ tuyệt” (gồm Đông Hồ, Mộng Tuyết, Lư Khê, Trúc Hà) đã ra đi vào 8g05 sáng 1-7-2007 tại Bệnh viện Đa khoa Kiên Giang sau một thời gian lâm bệnh nặng.
 
 Bà đã được đưa về tại khu Nhà lưu niệm Đông Hồ, là nền cũ của Trí Đức học xá do thi sĩ Đông Hồ sáng lập năm 1926 mà nữ sĩ Mộng Tuyết chính là người học trò xuất sắc. Nữ sĩ Mộng Tuyết tên thật là Thái Thị Sửu, các bút danh Hà Tiên Cô, Thất Tiểu Muội, Nàng Út, Bách Thảo Sương…
 
 Bà sinh ngày 9-1-1914 ở làng Mỹ Đức, Hà Tiên, nay là tỉnh Kiên Giang. Ngoài nhiều truyện ngắn, thơ, kịch, tùy bút đăng trên các báo, bà còn dịch thơ và viết khảo cứu văn học.
  
Sau tập thơ Phấn hương rừng (1939, được tặng giải “Khen tặng” của Tự Lực văn đoàn), Đường vào Hà Tiên (tùy bút, 1960), Nàng Ái Cơ trong chậu úp (tiểu thuyết lịch sử, 1961), Truyện cổ Đông Tây (1969), Dưới mái trăng non (thơ, 1969)…
  
Năm 1998, Mộng Tuyết xuất bản cuốn hồi ký Núi mộng gương Hồ ghi lại cuộc đời, sự nghiệp, những hoạt động văn học, văn hóa của bà và chồng là thi sĩ Đông Hồ, cùng nhiều văn nghệ sĩ thân thiết khác.
 
 Cùng với chồng là thi sĩ Đông Hồ, bà là một trong những nhà thơ mới tiêu biểu của miền Nam, là báu vật không chỉ của Hà Tiên, Kiên Giang mà còn của cả Nam bộ.
 
Như vậy, tiểu thuyết hư cấu “Nàng Ái Cơ trong chậu úp” được nữ sĩ Mộng Tuyết viết năm 1961, và lời sấm truyền cũng nằm trong tác phẩm năm 1961 thế kỷ 20, thử hỏi nào ai biết thực hư ra sao. Nay thì tác giả đã về cõi vĩnh hằng càng không có cơ hội để nghe một sự thật về lời sấm được bà lấy từ đâu.
  
Đến xứ Hà Tiên, du khách ngẩn ngơ vì cảnh đẹp như mơ của biển trời sông núi với những tên gọi thơ mộng, lãng mạn từng in trong tâm khảm con người.
 
 Rồi thì ai cũng muốn một lần đến viếng lăng mộ họ Mạc nằm dưới chân núi Bình San, một nơi chứa đầy những giá trị lịch sử, văn hóa và huyền thoại về  7 đời con cháu họ Mạc trấn giữ đất Hà Tiên.
 
  Hiện nay, hơn 40 ngôi mộ của dòng họ Mạc vẫn yên vị trên núi Bình San thơ mộng và thanh tịnh và ẩn chứa trong nó bao nhiêu bí ẩn của một dòng họ nổi tiếng đất Hà Tiên xưa. Con người luôn khám phá, tìm hiểu, còn lịch sử luôn chứa đầy những bí ẩn…

 

Cảm ơn bạn đã phản hồi. Chúng tôi sẽ kiểm duyệt trước khi đăng. Mời bạn tiếp tục truy cập website.

Tin cùng chuyên mục

Vụ cướp kho báu năm 1968